bài viết quan tâm nhiều

Thứ Năm, 6 tháng 11, 2014

TƯ LIỆU ĐÁNG ĐỌC VỀ GỐM CỔ VIỆT NAM – ĐỒ GỐM CHU ĐẬU

Ư LIỆU ĐÁNG ĐỌC VỀ GỐM CỔ VIỆT NAM
ĐỒ GỐM CHU ĐẬU
Tựa là về đồ gốm Chu Đậu, nhưng thật ra bài viết bao quát liên quan đến đồ gốm cổ Việt Nam nói chung hiện diện trên các viện Bảo Tàng quốc tế. Dưới đây chỉ là khái quát lại của cả một công trình nghiên cứu về Lịch sử và nhân văn nước Việt Nam ta, tuy nhiên cũng đủ giúp người đọc chỉnh trang lại kiến thức và hướng về chân lý chưa được nhìn nhận đúng đắn về nhiều vấn đề liên quan đến gốm sứ  cồ Việt Nam cũng như về nghề gốm tại Việt Nam.
Bùi Ngọc Tuấn
Về đồ gốm Chu Đậu
Trước hết tôi xin cảm ơn ông Phong Uyên và các độc giả xa gần đã đọc và hưởng ứng loạt bài về đồ gốm cổ Việt Nam. Mỗi bài đúng ra là một chương sách trong 10 chương của quyển Đồ gốm cổ, một nền văn hóa thuần Việt mà chúng tôi đang chuẩn bị xuất bản, ngoài phần bài viết còn rất nhiều hình ảnh đồ gốm Việt Nam từ đời Hán thuộc cho đến đời nhà Nguyễn, mà chúng tôi đã may mắn sưu tập được từ trong nhiều năm qua. Thứ tự các chương sách này cũng khác với thứ tự thời gian xuất hiện trên talawas. Tôi phổ biến các chương sách này trên talawas vì đây là cơ hội để các bài viết này đến được với nhiều người đọc trong và ngoài Việt Nam hơn; dù rằng với khuôn khổ trên talawas thì phần hình ảnh đồ gốm phải lược bỏ rất nhiều.
Có một số vị đã tìm được địa chỉ email của riêng tôi để hỏi mua quyển sách này, tuy nhiên vì công việc ấn loát còn đang trong vòng chuẩn bị nên tôi xin hẹn đến ngày hoàn tất.
Tôi cũng xin lỗi ông Phong Uyên và tất cả các bạn đọc vì đã bê trễ trong việc trả lời. Thật ra thì trong vòng 12 tháng qua, chúng tôi đã dọn nhà 3 lần, đi xa hàng nghìn dặm, nên không những sinh hoạt bị xáo trộn mà sách vở, tài liệu và ngay cả bộ sưu tập đồ gốm cũng phải đóng gói kỹ lưỡng, cất trong kho. Khi cần đến thì không sao tham khảo được. Tuy thế cũng không thể trì hoãn lâu hơn nữa, nên hôm nay viết ít dòng này để đáp lại những chân tình của ông Phong Uyên, các độc giả và ban biên tập talawas. Bởi vì không có gì sung sướng hơn khi bài mình viết ra có người đọc, thưởng thức, hưởng ứng và đối thoại, góp ý như thế này.
Từ hơn ba chục năm qua, tôi không còn là người dân Việt Nam nữa, mà đã tự chọn làm một người gốc Việt. Tuy thế niềm cố quốc vẫn không nguôi, tuy thế vẫn là một người Việt Nam về phương diện văn hóa. Bởi vì cái gì rồi cũng sẽ qua đi, duy có văn hóa dân tộc thì vẫn còn mãi mãi khi vẫn còn người tìm hiểu, đọc và viết về văn hóa, vẫn còn người sống, duy trì, phổ biến và chuyển biến nền văn hóa ấy. Tự biết rằng những điều mình viết về đồ gốm cổ Việt Nam vẫn có nhiều thiếu sót nhưng ngặt một điều là ít người biết đến nền văn hóa phong phú, cá biệt và tuyệt mỹ ấy, số người viết về đề tài này lại càng lẻ tẻ, thưa thớt, nên tôi viết để cố gióng lên một tiếng chuông để những người Việt Nam và những người gốc Việt tìm hiểu và phổ biến nét đẹp riêng của dân tộc, không của một chính thể hay quyền lực nhất thời nào – bởi vì một vài chục năm, một trăm năm nào có nghĩa gì trong dòng lịch sử rất dài của dân Việt. (Người khác nói “bốn nghìn năm văn hiến”, tức là kể từ đời Hùng Vương thứ nhất năm 2789 trước Công nguyên, cho đến nay 2006 sau Công nguyên đã là 4795 năm. Tôi thích kể lịch sử Việt Nam từ thời văn hóa Hòa Bình, từ 10.000 năm nay). Tôi hy vọng rằng sẽ có nhiều người yêu thích đồ gốm Việt Nam, viết và ca ngợi văn hóa Việt Nam để đính chính lại những sai lầm mà trong rất nhiều năm qua, từ tầm nhìn hạn hẹp của một số nhà Nho cũ, từ những kiêu ngạo ngang ngược của người viết sử Tàu, từ những cố chấp, mù quáng của những nhà viết sách người Pháp, tạo ra. Rồi sau đó được chấp nhận do sự hời hợt của nhiều trí thức, nhà báo, nhà giáo Việt Nam.
Tôi không chê văn hóa Trung Hoa, hay chê đồ gốm Trung Hoa. Tôi đã từng viết đồ gốm Trung Hoa cực đẹp. Nhiều người chuộng đồ gốm Trung Hoa chỉ vì nó đẹp, người khác chuộng không những chỉ vì nó đẹp, nhưng lại thêm vì không biết rằng đồ gốm Việt Nam cũng rất đẹp, một cái đẹp rất Việt Nam, rất khác cái đẹp Trung Hoa. Như tôi thường viết, cái đẹp của đồ gốm Trung Hoa là cái đẹp của thơ Lý Bạch, cái đẹp của đồ gốm Việt Nam là thơ Nguyễn Khuyến. Tôi thích đồ gốm Trung Hoa, nhưng tôi yêu đồ gốm Việt Nam. Cũng chẳng khác gì việc tôi thích cái đẹp của nhiều cô gái mình từng gặp trên đời, nhưng tôi yêu cái đẹp của vợ tôi. Người khác nghĩ sao mặc lòng.
Cà kê dài dòng mà vẫn chưa trả lời các câu hỏi của ông Phong Uyên, vậy thì nay xin nói thẳng:
1. Để được rõ thêm, tôi đã gọi điện thoại về Hải Dương để tham khảo với ông Tăng Bá Hoành (nguyên là Giám đốc Viện bảo tàng tỉnh Hải Dương), người có công lớn nhất trong việc khai quật, lưu trữ, nghiên cứu về đồ gốm Chu Đậu, thì được ông cho biết thêm là từ năm 1980, (khi nhận được thư của ông Makato Anabuki, và xác định được niên đại và nguồn gốc của bình Tokapi Saray) thì những khai quật và tìm hiểu ở Chu Đậu kế đó là do Viện bảo tàng Hải Dương tự làm, chứ chính quyền trung ương ở Hà Nội không góp phần. Vì thế mặc dù nhóm ông Tăng Bá Hoành ở Hải Dương rất muốn sang Istanbul để xem tận mắt chiếc bình Tokapi Saray này – và biết đâu lại chẳng nhận diện được nhiều món đồ Chu Đậu khác đang được lưu giữ tại đó – nhưng họ đã không có đủ ngân khoản để thực hiện. Vì thế mọi liên lạc, tìm hiểu với Tokapi Saray chỉ là qua thư từ. Cho nên, cho đến nay, không có một phái đoàn chính thức nào của Việt Nam đến Tokapi Saray.
Người Việt Nam nổi tiếng về đồ cổ đã đến viện bảo tàng Tokapi Saray là cụ Vương Hồng Sển. Trong sách Khảo về đồ sứ men lam Huế (tập hạ, trang 240-241) cụ viết về chuyến viếng thăm Viện bảo tàng Tokapi Saray năm 1963 như sau: “Viện Tokapi chứa đồ céladon đến số muôn số thiên gồm đồ đời Tống, đời Nguyên, đời Minh, luôn cả đồ đời Kiền Long nhà Thanh…”
Trên hơn một trang giấy, cụ Vương không hề nhắc đến trong “số muôn số thiên” ấy có cái bình do bà Bùi Thị Hý vẽ, mà cũng không nói là viện Tokapi Saray có trưng đồ Việt Nam hay không. Hoặc giả là cụ không nhìn thấy cái bình ấy, hoặïc giả là có thấy mà cho là đồ đời Minh, đời Thanh (Cụ Vương không đọc rành chữ Hán, mà có khi cụ cũng không biết châu Nam Sách là một nơi ở tỉnh Hải Dương, miền Bắc Việt Nam).
Ông Phong Uyên kể rằng đã đến Viện bảo tàng Tokapi Saray hơn mười năm trước đây, thấy mấy trăm món đồ đời Minh và có thấy cái bình đó, nhưng cũng là sau khi ông Makato Anabuki nhận ra rằng bình này làm ở Việt Nam, mà từ đó được ghi chú đúng là “nguyên gốc ở Việt Nam”. Tôi vẫn nghĩ rằng có nhiều đồ Chu Đậu ở nhiều nơi bị ghi chú lầm là đồ Trung Hoa, và tôi thường tự hỏi còn bao nhiêu món Chu Đậu đẹp ở Tokapi Saray, ở những việc bảo tàng và bộ sưu tập tư nhân khác vẫn mang nhãn đồ Tàu?
Ngoài chiếc bình ở Tokapi Saray, nhóm ông Tăng Bá Hoành còn tìm được rất nhiều món đồ làm ở làng Chu Đậu, ở Phủ Nam Sách ghi rõ tên người làm, người đặt làm, những năm tháng của thế kỷ XV, thời Hậu Lê, thời Trịnh-Mạc. (Xin nhắc ông Phong Uyên xem lại các chú thích số 7 đến số 10 dưới chương về đồ Chu Đậu). Mà chẳng gì Chu Đậu, nhiều món đồ Bát Tràng (lư hương, chân đèn…) cũng ghi rõ năm tháng, tên người làm, tên người đặt…). Những chân đèn cao, đẹp, những món đồ Lý-Trần đẹp chẳng những có trong các bộ sưu tập riêng (mà tôi cũng có may mắn dự phần – khi nào có dịp, xin mời ông Phong Uyên ghé thăm) mà còn có rất nhiều ở Viện bảo tàng Lịch sử Việt Nam ở Hà Nội, Hải Dương…
Nhân đây cũng xin kể rằng, ông Tăng Bá Hoành đã tìm ra thêm nhiều điều thú vị về bà Bùi Thị Hý, người vẽ và viết hoa văn của chiếc bình tuyệt đẹp đó: Bà Bùi Thị Hý sinh năm 1420 mất năm 1499 ở Nam Sách là người hay chữ, có nét vẽ và nét viết rất đẹp. Bà đã giả trai để đi học và đi thi. Sau khi đậu tam trường thì việc giả trai của bà bà bị khám phá. Bà trở về Chu Đậu, lấy ông Đặng Sỹ, chủ một lò gốm rất lớn ở Chu Đậu. Lò này chuyên làm đồ xuất cảng. Tại đây với tài năng sẵn có, bà Bùi Thị Hý đã vẽ hoa văn cho rất nhiều món trong đó có bình Tokapi. (Những chi tiết này ông Tăng Bá Hoành đã viết trong một bài đăng trên báo Quân đội Nhân dân ở Hà Nội).
Về giá bán, đồ cổ thì vô giá. Ai thuận mua với giá nào là nó có giá đó. Chứ đâu phải như quần áo, bàn ghế thường dùng. Đồ gốm Việt Nam đẹp vốn đã hiếm, lại ít ai (kể cả người Việt) biết đến. Chính vì cái ít ai biết đến ấy, mà mấy anh Tàu anh Nhật cứ mua rồi cất trong nhà thôi, không bán chác gì cả.
Hồi tháng 10 năm 2000 nhà bán đấu giá Butterfields có tổ chức ở San Francisco và Los Angeles cuộc bán đấu giá đồ gốm Chu Đậu vớt được từ một tầu chìm ngoài khơi Cù Lao Chàm, Hội An (họ gọi là “Hoi An Hoard”, kho tàng Hội An). Trong 3 ngày 11, 12, 13 tháng 10 này tổng số tiền bán được là vào khoảng 3 triệu Mỹ kim. Mấy món đồ bán được cao giá nhất là 79.500 – 63.000 – 57.500 – 40.250 và một số món khác từ 28.750 đến 37.375 Mỹ kim và rất nhiều món khác được bán với giá trên mười nghìn Mỹ kim. Những người mua các món này là một nhà sưu tập hiện sống ở Á Châu, viện Bảo Tàng British Museum, Gallery of New South Wales, Seattle Art Museum, Phoenix Art Museum, Asian Art Museum of San Francisco, San Diego Museum of Art… (Trong đó người sưu tập gốc Việt mua khoảng 20% số món đồ – khi có dịp, tôi sẽ xin viết tường tận hơn về cuộc bán đấu giá này). Sau đó trên báo Nhân dân số ra ngày 20 tháng 3 năm 2006, dưới tựa bài “Gốm cổ Chu Đậu – thông điệp của thời gian” tác giả Khôi Nguyên viết rằng: “Một người Mỹ tên là G. Xpin-man đã mua được chiếc bình tỳ bà cao 28,5 cm qua một cuộc đấu giá, với giá kỷ lục 521.000 USD…”. Cuộc bán đấu giá này được tổ chức ở đâu, ngày nào? Không thấy ông Khôi Nguyên nói rõ. Nhưng với giá hơn nửa triệu Mỹ kim thì đồ Chu Đậu được lắm đó chứ?
Ít năm nữa, mấy cái bình này sẽ lại được bán với giá nào? Tôi tin là cứ từ từ, rồi người ta sẽ biết đến, rồi đồ gốm Việt Nam cũng sẽ được các nhà Butterfields, nhà Chrities, nhà Sotheby’s … bán với những giá tiền khổng lồ cho mà xem.
Các nơi bán đấu giá ở gần nhà ông Phong Uyên, bán đồ đời Minh 5 triệu Mỹ kim, đồ Thanh 100.000 Mỹ kim, và đồ Việt dưới 1.000. Nhưng tôi tự hỏi, ví thử cái bình Tokapi Saray được đem ra bán đấu giá thì mấy triệu? Những món đẹp nhất của “Hoi An Hoard” được giữ lại cho viện bảo tàng ở Việt Nam, nếu được bán ra thì thu về bao nhiêu? Tôi nghĩ là nhiều món trong số đó sẽ bán được hàng trăm nghìn. Có thể tiền triệu được chăng?
2. Về đồ gốm Chu Đậu (Nam Sách, Hải Dương) và Bát Tràng (Gia Lâm, Hà Nội) tôi đã viết rõ trên hai chương về hai loại đồ gốm nay, chỉ xin tóm tắt rằng: Chu Đậu và Bát Tràng hoạt động gần như cùng thời. Sử sách cổ viết về Bát Tràng mà không viết về Chu Đậu, như vậy là vì Bát Tràng làm đồ gốm từ lâu hơn chăng? Gốm Chu Đậu đẹp hơn Bát Tràng. Gốm Chu Đậu thường được xuất cảng, Bát Tràng để dùng trong nước. Cụ Vương Hồng Sển, trong sách Khảo về đồ sứ men lam Huế (tập hạ, trang 13), viết theo lời kể của bác sĩ Trần Lê Đôn, rằng Bát Tràng chỉ làm “đồ từ khí”. Điều này không đúng, Bát Tràng cũng làm chén đĩa, vì thế triều đình mới lấy để mang cống triều đình Trung Hoa (Xin xem lại chương tôi viết về Bát Tràng). Sau khi Chu Đậu tàn lụi thì Bát Tràng vẫn tiếp tục và được một số nghệ gia từ Chu Đậu tới cùng làm gia tăng mức độ sản xuất và giá trị của Bát Tràng.
Cụ Vương viết thêm là “theo ông Lê Thành Khôi, lò Bát Tràng do hai người thợ gốc gác ở Thanh Hóa đến đây xây dựng… và dẫn món cổ nhứt để làm vật dẫn chứng, ký niên hiệu Mậu dần (1578)…”. Chắc đây là cái bình có ghi “Diên Thành vạn vạn niên” (năm Diên Thành thứ nhất đời Mạc Mậu Hợp. Dựa vào đó cụ Vương viết rằng “gốm Bát Tràng thuộc vào đời nhà Mạc”. Thật ra Bát Tràng đã làm đồ gốm từ trước đó lâu rồi, năm 1435 Nguyễn Trãi đã viết trong Dư địa chí rằng Bát Tràng đã cung cấp đồ bát chén làm cống phẩm cho triều Minh. Làm bát chén được lựa làm cống phẩm thì đâu phải là tay mới ra nghề. Số người từ Chu Đậu dời đến Bát Tràng chỉ làm tăng thêm lượng và phẩm của gốm Bát Tràng, chứ người ở làng này vẫn làm đồ gốm lâu rồi.
Trong sách Gốm Bát Tràng’ các ông Phan Huy Lê, Nguyễn Đình Chiến và Nguyễn Quang Ngọc có dẫn chuyện “Hứa Vĩnh Cảo (đời Lý Thái Tổ – đi sứ nhà Bắc Tống về) truyền cho Bát Tràng nước men trắng”. Như vậy tôi nói rằng Bát Tràng đã có nguồn gốc từ khi Lý Thái Tổ dời đô ra Thăng Long cũng chẳng phải là chuyện xa sự thật. Gốm Chu Đậu thường ghi niên hiệu nhà Mạc, gốm Bát Tràng ghi niên hiệu nhà Lê, nhà Mạc, nhà Tây Sơn, nhà Nguyễn và ngày nay Bát Tràng vẫn còn tiếp tục làm đồ gốm, duy có khác ở chỗ dùng nhiều phương tiện tân kỳ hơn xưa, dùng nhiều hoa văn và dáng kiểu hơn xưa. Nhóm ông Phan Huy Lê cũng tìm được món cổ hơn, một chân đèn ký năm Sùng Khang thứ 7 (1572).
Ngoài chương về đồ gốm Bát Tràng, xin mời xem lại chú thích số 4 dưới chương về đồ Chu Đậu. Chu Đậu ngưng làm đồ gốm từ thế kỷ XVII, nay cũng đã bắt đầu làm lại và làm quy mô hơn xưa bội phần. Nếu có dịp đi Việt Nam chơi, đến thăm cả hai nơi này chắc sẽ rất thú vị.
3. Cụ Vương Hồng Sển nói rằng khi người Mông Cổ chiếm Trung Hoa lập ra nhà Nguyên (đây là lần thứ nhất Trung Hoa bị ngoại bang đô hộ), vì không muốn sống dưới triều đại nhà Nguyên, vì nhớ thương nhà Tống nên một số người Tàu đã sang Thanh Hóa lập lò gốm và làm những món đồ men ngọc mà sau này người ta gọi là đồ Thanh Hoá.
Tôi ngờ rằng cụ đã suy luận như thế là vì cụ nghĩ chỉ có người Trung Hoa mới làm được đồ men ngọc đẹp như vậy. Tôi ngờ rằng vì yêu thích những món đồ Tống, Minh, Thanh mà cụ Vương đã lầm. Tôi tra lại những bộ sử cổ, thì thấy trong An Nam chí lược của Lê Tắc, chỉ kể ra có 3 nhóm nhỏ người nhà Tống sang sống ở Việt Nam, khi người Mông Cổ chiếm Trung Hoa mà thôi. Nhóm 3 người đó (và gia đình, tùy tùng) là Trần Trọng Vy, Tăng Uyên Tử và Khả Văn Kiệt, và con trai 10 tuổi của Tô Lưu Nghĩa là Tô Cảnh Do.
Năm 1279, khi nhị vương nhà Nam Tống bại trận rồi mang tàn quân vượt biển chạy về Quảng Châu thì bị quân Nguyên truy đuổi, đánh bại. Ích Vương (9 tuổi) chết ở Nhai Sơn (Vùng Cửu Long – Hương Cảng bây giờ), Quảng Vương (7 tuổi) tự tử (quan Tham Chính – tên là Tú Phu – ôm Quảng Vương nhảy xuống chỗ cửa sông Châu Giang trầm mình), thì 3 ông quan này chạy sang Việt Nam và được nhà Trần hậu đãi. Được ít lâu thì Trần Trọng Vy qua đời. Khả Văn Kiệt, Tô Cảnh Do và Tăng Uyên Tử sống ở Thăng Long.
Năm năm sau, năm 1284, khi Thoát Hoan, thái tử nhà Nguyên, tước Trấn Nam Vương, mang đại quân sang đánh Việt Nam thì Tô Cảnh Do ra trình diện, tố cáo Khả Văn Kiệt đã giết oan cha mình (Tô Lưu Nghĩa), Thoát Hoan chém Khả Văn Kiệt, và cho Tô Cảnh Do trở về Tàu sống. Tăng Uyên Tử cũng ra quy phục quân Nguyên rồi sau đó không biết sống chết ra sao. Như thế ta thấy cái tinh thần yêu nước của mấy ông này thế nào rồi. Một ông chết già, một ông bị chém, còn ông thứ ba và đứa nhỏ 10 tuổi thì mang tiếng là chạy sang Việt Nam vì nhớ nhà Tống, ghét nhà Nguyên, thế mà Thoát Hoan sang đánh Việt Nam thì lại vội vã ra hàng. Họ đâu có ở Việt Nam cho đến lúc Chu Nguyên Chương đuổi được người Mông Cổ, lập ra nhà Minh.
Như thế ông Tàu nào làm đồ men ngọc ở Thanh Hoá? Hay là họ đợi đến khi An Nam chí lược viết xong (năm 1335) rồi mới qua Việt Nam để sống thêm 35 năm nữa (cho đến năm nhà Minh thay nhà Nguyên, 1368) mà làm đồ men ngọc?
Dưới đây tôi cũng sẽ dẫn tài liệu để chứng tỏ rằng người Việt đã làm đồ men ngọc đẹp dưới đời Lý, khi nhà Tống vẫn còn thịnh trị ở Trung Hoa.
Quả thật, đồ men ngọc Thanh Hóa đẹp không khác gì đồ men ngọc đời Tống. Một số đồ men ngọc Thanh Hóa có dấu vết đồ nhà Tống như hoa văn nổi hình lưỡng long, 2 hay 3 em bé trai chơi trong vườn hoa, nhưng có khi người ta lại Việt hóa đi mà vẽ 2 lực sĩ đấu vật trong vườn hoa… Những yếu tố kỹ thuật và mỹ thuật tương đồng này đưa ông Vương Hồng Sển đến kết luận rằng các món đồ ấy đều do người Tầu sang Thanh Hóa làm. Cụ Vương nói rằng sau năm 1368, người Tầu về xứ nên không ai làm đồ men ngọc ở đó nữa.
Tôi cho rằng trong thời sức khoẻ còn sung mãn, nếu cụ Vương có cơ hội sưu tầm và nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam thì nhận xét của cụ chắc cũng sẽ khác. Cụ Vương vốn là người miền Nam, thời đại và nơi chốn (đất nước phân chia, chiến tranh khốc liệt) đã giới hạn sự tìm hiểu và sưu tập của cụ rất nhiều. Theo những sách cụ viết thì tôi thấy cụ chỉ chú tâm đến đồ Trung Hoa, đời Tống, Minh Thanh, mà chú trọng hơn hết lại là đồ ngọc. Vì thế những điều cụ nói về đồ gốm Việt Nam cũng là sản phẩm tất nhiên của các yếu tố đó.
Thêm nữa, khi Trung Hoa bị ngoại bang đô hộ lần thứ hai (khi người Mãn Châu vào chiếm Trung Hoa lập ra nhà Thanh và phong trào “phản Thanh phục Minh” thất bại), nhóm Trần Thắng Tài, Dương Ngạn Địch phải kéo hơn 5.000 người “di tản” sang Việt Nam sinh sống. Họ cũng làm đồ gốm ở Biên Hòa, Lái Thiêu. Nhưng khi nhà Thanh mất ngôi, Tôn Dật Tiên lên làm tổng thống, có thấy người Tàu dẹp tiệm, dời nhà trở về xứ đâu? (Sau năm 1975, chính quyền cộng sản Việt Nam đuổi người Việt gốc Tàu ra khỏi nước thì đó lại là một chuyện khác.)
Trong cuộc khai quật về đồ gốm Chu Đậu, nhóm ông Tăng Bá Hoành ở Viện bảo tàng tỉnh Hải Dương đã tìm ra nhiều món Chu Đậu men ngọc rất đẹp. Như vậy sau năm 1368 người Việt chắc chắn vẫn làm đồ men ngọc và làm đồ men ngọc đẹp. Ví dụ trong sách Cổ vật Việt Nam do nhà Bộ Văn hóa Thông tin xuất bản ở Hà Nội năm 2003, có một số hình đồ men ngọc trong bộ sưu tập của ông Phan Công Thọ, Hà Nội làm vào thời cuối Trần, đầu Lê (thế kỷ XIV, XV). Còn trước đó? Viện bảo tàng Lịch sử Việt Nam ở Hà Nội, Hải Phòng có nhiều món đồ men ngọc tuyệt đẹp làm vào thế kỷ XI, dưới đời Lý, đây là thời nhà Tống còn hưng thịnh bên Tàu, chẳng có lý gì để họ phải qua Thanh Hóa lập nghiệp cả. Tôi vững tin mà kết luận rằng người Việt vẫn làm đồ men ngọc đẹp từ trước đời Lý cho đến sau đời Lê-Mạc.
4. Dấu con kê. Dấu con kê của đồ gốm Việt Nam có rất nhiều loại, chứ không phải chỉ đơn thuần là vài ba cục đất sét nhỏ như ông Phong Uyên nghĩ. Có loại hình vành khăn, hình nón cụt, hình đĩa. Con kê thường có đường kính từ 4 đến 7 cm, cao từ 1 đến 4 cm. Có loại được nặn bằng đất sét hay cao lanh loại xấu, chỉ được dùng một lần, rồi bỏ, có loại làm bằng cao lanh tốt và được dùng đi dùng lại nhiều lần. Loại hình đĩa, theo lời ông Tăng Bá Hoành thì: “có chân được đúc bằng khuôn, lót vải, đúc xong gắn các chân nhỏ”. Ngoài con kê ra còn có đinh gốm (trông giống cái đinh, dài 6 đến 8cm, đường kính 1.2 đến 1.4 cm. Con kê có từ 3 đến 5 mấu. Cái đáng chú ý là kỹ thuật dùng con kê cũng tiến triển nhiều hơn trước. Với đồ Lý Trần, dấu con kê còn rõ ràng trong bát, đĩa, trong khi đó, khi khai quật một số lò gốm Chu Đậu cổ, nhóm ông Tăng Bá Hoành đã tìm được hàng ngàn con kê đủ các loại, vậy mà trong bát, đĩa Chu Đậu dấu con kê không còn lộ ra nữa.
5. Đồ men ngọc của Tàu pha bột đá nên cứng hơn. Điều này kiểm chứng được rất dễ dàng. Tuy nhiên không ứng dụng được cho những người chỉ được xem đồ gốm trong sách hay trong viện bảo tàng, vì phải dùng tay mà sờ, mà cảm, mà gõ lên tiếng kêu: Khi cầm món đồ Tầu, nếu ta búng ngón tay vào thành bát (hay đĩa) tiếng kêu phát ra cao, trong và thanh, ngân dài không ngớt như tiếng chuông, nhưng ở món đồ men ngọc Việt Nam, thì tiếng kêu ngắn và đục. Những món mỏng hay dầy đều thế cả.
6. Không biết là thật sự khi xuất cảng đồ sứ thì các lò gốm Việt Nam có quan tâm lắm về việc bán đi nước nào chăng? Tôi viết là họ đã bán sang các nước Ả Rập Hồi giáo là vì muốn dùng ngôn ngữ thời nay, chứ thật ra mình bán cho các tầu buôn, họ chở sang vùng Persia, Ottoman (Ba Tư và Thổ Nhĩ Kỳ). Chính những nhà quý tộc ở vùng này cũng không bận tâm là đã mua đồ gốm Việt Nam. Có khi họ còn yên trí là đã làm chủ các món đồ gốm đẹp của Trung Hoa.
7. Tôi thành thật mời ông Phong Uyên so sánh đồ gốm Trung Hoa đời Minh đời Thanh với vài món Chu Đậu đẹp hiện được giữ ở các viện bảo tàng sau đây (bởi vì nếu trưng ra các món Chu Đậu thuộc bộ sưu tập tư nhân thì khó mà được chủ nhân cho xem):
Bình Tokapi Saray – với câu: “Thái Hòa bát niên, Nam Sách châu, tượng nhân Bùi Thị Hý bút” (Hình từ: Vietnamese Ceramics, a separate tradition của Joh Guy và John Stevenson)
1. Bình do bà Bùi Thị Hý vẽ, hiện ở viện bảo tàng Tokapi Saray (mà ông Phong Uyên đã có dịp xem)
2. Bình của Prince Elector of Saxony do Duke of Florence tặng năm 1590, hiện được giữ ở Johannaun Museum, Dresden, Thụy Điển
3. Bình vẽ hoa mẫu đơn và hoa sen hiện ở Museum of Fine Arts, Bosto
4. Bình vẽ hoa mẫu đơn của Pacific Asia Museum, Pasadena
5. Bình Majorie Lewis Griffing của Honolulu Academy of Arts, Hawaii
6. Bình Betty & John R. Menke của Metropolitan Museum of Art, New York
7. Đĩa rồng, sen của Museum Nasional, Jakarta
8. Đĩa và bình của Museum of Oriental Ceramics, Osaka
9. Viện bảo tàng tỉnh Hải Dương
10. Viện bảo tàng Lịch sử Việt Nam ở Hà Nội
Bình do Due of Florence tặng Prince Eletor of Saxony. Hình dưới: Bình Chu Đậu của Museum of Fine Arts, Boston (Hình từ: Vietnamese Ceramics, a separate tradition của Joh Guy và John Stevenson)
Thôi, chừng đó món đủ để thấy tại sao tôi cho là đồ Chu Đậu đẹp ăn đứt đồ Minh, Thanh rồi, kể thêm nữa cũng thế.
Tới đây tôi cũng xin thêm rằng biết đâu việc các viện bảo tàng, các nhà bán đấu giá ở nơi ông Phong Uyên cư ngụ (nước Pháp) không có đồ men ngọc hay đồ men lam Việt Nam, bởi vì mấy ông Tây đã lầm lẫn mà xếp các món đồ Việt Nam này vào đồ Hán, Đường, Tống, Minh, Thanh rồi. Nội việc đồ gốm Việt Nam nào cũng bị gọi là đồ “Tanhoa” (Thanh Hoá) thì ta thấy ngay là sự hiểu biết về đồ gốm Việt Nam của mấy ông Tây này ra sao rồi!
8. Trà đạo: Trước hết tôi xin dẫn lại chú thích số 2 trong chương “Chu Đậu…”: “Từ thế kỷ 12, người Nhật bắt đầu uống mạt trà. Tràn tán nhỏ ra như bột, pha vào nước sôi. Mạt trà được nhập cảng từ bên Tầu qua, lúc đầu chỉ được coi là một thứ thuốc (tiên dược) có khả năng giải bệnh hơn là giải khát. Trà được dùng ở triều đình Nhật từ thời nhà Tống bên Tầu, nhưng đến thế kỷ 14, trà mới bắt đầu trở nên phổ thông, nhưng chén bát uống trà còn lộn xộn, hoàn toàn khác nhau, tùy theo ý người uống. Trà xanh được dùng khi “Trà đạo” (Chanoyu) được khởi xướng bởi Murata Juko (1452 – 1502). Sau đó Takkeno-Jo O (1502 – 1555) và rồi sau nữa là Thiền sư Sen Rikyo mới dọn xếp tất cả lại thành Trà đạo trong phong tục, văn hóa Nhật”. Trước tôi, cụ Vương Hồng Sển cũng viết trong Khảo về đồ sứ men lam Huế tập hạ, trang 39) như vậy. Trước đó, ở trang 13 cụ viết: “Gốm Bát Tràng vào thế kỷ XVI, danh tiếng đến lò bên Nhựt Bản nhái tạo và đặt tên riêng là gốm Kot-chi (Giao Chỉ)’”. Nhắc lại để thấy những điều tôi viết sơ lược về Trà đạo của người Nhật cũng chẳng xa gì với ông Phong Uyên đã viết.
Ông Phong Uyên lý luận rằng vì không thấy đồ Chu Đậu trong các viện bảo tàng ở Nhật mà ông đã đi qua, nên chắc đồ Chu Đậu chỉ được dùng trong dân gian thôi. Theo sách tôi đã đọc, xin kể sơ vài món:
* Trong số đồ gia bảo của gia đình Tokugawa (sứ quân Nhật từ 1615 đến 1867) là một bình Chu Đậu của sứ quân Yoshiharu Tokugawa (1737-1786). Bình này đã được chính phủ Nhật chính thức xếp vào loại “Trọng yếu văn hoá tài” (Important Cultural Property). Đây là thứ hạng chỉ dưới bậc “Quốc bảo” (National Treasure – vốn dành riêng cho những bảo vật có nguồn gốc Nhật Bản). Bình này được dùng trong nghi thức Trà đạo của gia đình sứ quân Tokugawa. Dòng họ Tokugawa còn vài báu vật nữa là các bát uống trà Chu Đậu.
* Gia bảo của dòng họ quan khâm sai vùng Nagasaki là Ozawa Shiroemon Mitsunaka có 8 món Chu Đậu, 1 món men trắng đời Lý. 4 trong số 9 món này hiện thuộc Kyoto National Museum.
* Cũng kể thêm là gia đình đại thương gia Konoike ở Osaka – sưu tập nhiều bộ bình, chén dùng trong Trà đạo – cũng có một bình đời Lý, một bình tương tự cũng là của gia bảo của gia đình Kanamori Sowa (1546-1656)…
Đồ gốm Việt Nam vào thời đó được người Nhật gọi là đồ Shimamono (đảo vật) hay Namban (An-Nam) không những chỉ được ưa chuộng bởi những nhà quyền quý, mà còn được người Nhật bắt chước làm theo. (Sở dĩ những món này được gọi là “đảo vật” vì lúc đầu, đồ gốm Việt Nam được tầu buôn từ Phi Luật Tân chở đến bán.)
Bà Louise Allison Court (trong Vietnamese Ceramics, a separate tradition – chương 4, Vietnamese Ceramics in Japanese context) nêu ra các điểm chính là:
1. Số đồ Chu Đậu ở Nhật ít hơn đồ Tàu, và chỉ được giữ trong những bộ Trà đạo gia bảo của giới quyền quý.(Bà Court còn viết thêm thế này: “… they have exerted significant influence on Japanaese connoisseurship and ceramics production in way that only now, with the intensification of interest in archaeology, are coming to be recognized”.
2. Không những chỉ có đồ tráng men mà cả những món đồ gốm không tráng men của Việt Nam cũng được giới Trà đạo yêu thích. Các lò gốm Nhật Bản cũng đã theo các mẫu đó mà làm theo. (“The many replicas and interpretations of unglazed Vietnamese ceramics made by Japanese potters further their attest to their cultural significance”).
3. Những món đồ men trắng chàm với hoa văn đơn giản của Việt Nam đã thúc đẩy những hoạt động của lò gốm Seto và Mino.
Nói rằng người Âu châu (ngay cả người Việt) thích đồ sứ Nhật vì đẹp là rất đúng. Nhưng đó là chuyện sau này, chuyện của thế kỷ XIX, XX. Sau khi họ đã học và phát triển kỹ thuật và mỹ thuật cao. Đây là một đặc tính quý giá của dân Nhật, “không biết sáng chế, chỉ bắt chước, nhưng sẽ làm hay hơn thầy”. (Cũng như người ta thích xe Lexus, Acura, Toyota, Honda… và cho rằng những xe này ăn đứt xe Mỹ. Nhưng đâu ai dám phủ nhận là người Mỹ dạy họ làm xe hơi – chính ông Lee Iacocca lúc còn làm ở hãng Ford Motor, đã phải sang Nhật để thuyết phục Honda nên đi vào kỹ nghệ xe hơi hồi mấy chục năm trước). Tất nhiên là tất cả mọi người đều biết làm đồ gốm từ thời thượng cổ, vì không biết làm thì lấy gì mà ăn uống. Nhưng sự khác biệt là biết làm những món thường thường và làm những món có tâm hồn, những món có nghệ thuật là chuyện khác. Người Nhật trước chỉ mua đồ của người Tàu, người Cao Ly, học nghề đồ gốm từ Cao Ly, gợi hứng từ đồ gốm Việt Nam. Sử chép rằng các phác họa đồ gốm dùng trong Trà đạo được gửi từ Cao Ly (và Việt Nam) qua Nhật để chuẩn duyệt rồi mới mang về lò gốm ở Cao Ly, Việt Nam để làm xuất cảng sang Nhật.
Sử chép rằng vào thế kỷ XVI, (năm 1592-1598) khi xâm chiếm Cao Ly, người Nhật đã bắt 3.000 thợ đồ gốm Cao Ly mang về Nhật. Nghề làm đồ gốm ở Cao Ly sa sút hẳn từ đó.
Cứ công tâm mà so sánh thì trong quyển Blue and White in the East Asia của Viện bảo tàng Osaka, với những hình chụp đồ đời Minh, đồ Nhật, đồ Cao Ly và đồ Chu Đậu, thì sẽ thấy tất cả đều đẹp, nhưng đồ Chu Đậu trội vượt hẳn lên. Nhưng bây giờ đi ra chợ mua chén đĩa đắt tiền thì không ai lại làm đẹp bằng đồ của người Nhật. (Nhưng lại có người – như vợ tôi chẳng hạn – lại chỉ thích chén đĩa men trắng làm ở Hải Dương thôi.)
9. Ông Phong Uyên đi nhiều, xem nhiều và ít thấy đồ gốm Việt Nam được trưng bày trong các viện bảo tàng. Theo ý riêng của tôi, điều này vừa đúng vừa sai. Sai vì rằng trong các viện bảo tàng lớn đều có những món đồ gốm Việt Nam và có đồ Chu Đậu rất đẹp được trưng bày. Tôi chỉ xin kể tên vài viện được nêu trong Vietnamese Ceramics, a separate tradition của John Guy và John Stevensen, như:
1. Metropolitan Museum of Art, New York
2. Museum of Fine Arts, Boston
3. Museum het Princesshof, Leewarden
4. Society of Acient Southeast Asian Ceramics, Nhật Bản
5. Kyoto National Museum, Nhật Bản
6. Machida Municipal Museum, Nhật Bản
7. Birmingham Art Museum, Alabama
8. Museum of East Asian, Bath (Úc)
9. Asian Art Museum of San Francisco
10. British Museum, London
11. Art Gallery of South Australia, Adelaide
12. Denver Museum of Art, Denver, Colorador
13. Seatle Art Museum, Seatle, Washington
14. …
Cứ nhìn vào hình chụp, những món đồ Chu Đậu này và rất nhiều món thuộc những bộ sưu tập tư nhân được in trong sách này, thì người khó tính cũng phải thấy rằng đồ Chu Đậu đẹp chẳng thua gì đồ đời Minh, đời Thanh. Vấn đề là người ta không biết đến mà thôi.
Ông Phong Uyên nói rằng đồ Việt Nam trong các viện bảo tàng ở Âu châu mà ông đã có dịp đến thăm “hiếm hoi” lắm. Điều này cũng đúng và cũng không làm giảm giá trị của đồ Việt. Đồ đẹp Việt Nam còn lại ít lắm, thêm nữa theo tôi thì lại còn nhiều món bị kể là đồ Tầu. Thế thì vào thăm các viện bảo tàng ta không thể nghĩ là sẽ được thấy hàng trăm món ở mỗi nơi. Đồ quý ở chỗ đẹp, chứ đâu phải ở chỗ nhiều. Dù rằng vừa nhiều vừa đẹp như đồ Tàu thì ai chả muốn. Bây giờ vì biết đến từ các món đồ vớt từ tầu chìm và khai quật từ các lò gốm cổ ở Hải Dương người ta sẽ bắt đầu chú ý đến đồ Việt hơn. Mươi, mười lăm năm trước đây, gọi điện thoại đến Butterfields, Christies, Sotheby’s người ta đâu có biết gì về đồ Việt Nam. Nhưng nay đã khác, họ đều có người sẵn sàng trả lời các câu hỏi về đồ gốm Việt.
Điều đáng mừng là hiện nay đã có nhiều người Việt ở trong nước sưu tập đồ gốm Việt Nam. Trong tương lai những người trẻ tuổi sẽ tìm hiểu và sẽ đính chính lại những hiểu biết thiếu sót và nhầm lẫn của người đi trước.
Xin nhắc lại lần nữa rằng cũng như những lầm lẫn trong quá khứ, biết đâu chừng còn nhiều món đồ Việt Nam đang bị các viện bảo tàng này nhầm lẫn mà xếp vào loại đồ Trung Hoa, Nhật Bản…? Ví dụ cái bát Chu Đậu dùng trong Trà đạo giữ ở viện Smithsonian, Washington D.C. trong nhiều năm bị ghi chú lầm là đồ gốm Nhật Bản, do tổ sư Hizen làm ra. Vốn đã coi thường văn hoá Việt Nam, tìm thấy món quá đẹp này từ Nhật Bản, người ta bèn kết luận chỉ có tổ sư Hizen của Nhật mới làm được thôi.
10. Về sách đọc, tôi thích những quyển:
1. Vietnamese Ceramics, a separate tradition – nxb. Art Media Resource xuất bản năm 1997, do John Guy và John Stevenson chủ biên với các bài đóng góp của:
i. John Guy – Curator of Indian and Southeast Asian Collection, Victoria and Albert Museum, London
ii. John Stevenson (Independent researcher; formerly Acting Associate Curator for Chinese Art, Seattle Art Museum)
iii. Louise Allison Cort – Curator of Ceramics, Freer Gallery of Art và Arthur Arthur M. Sackler Gallery, Smithsonian Institute, Washington D.C.
iv. Regina Krahl – Researcher Associate, Musées Royaux d’Art et d’Histoire, Brussels
v. Peter Lam – Senior Curator, Art Museum, Chinese University of Hong Kong
vi. Morimoto Asako, Research Fellow, Fukuoka City Archaeological Service
vii. Nguyen Đinh Chien – Chief Curator, National Museum of Vietnamese History, Ha Noi
viii. Trian Nguyen – Ittleson Fellow, National gallery of Art, Washington D.C.
ix. Phillip Truong – Independent Reseacher, Paris and Saigon
Quyển này dày hơn 400 trang khổ 8X10”, trong đó hơn 200 trang với rất nhiều hình ảnh rất đẹp, viết bằng tiếng Anh. Nếu ai chỉ muốn mua 1 quyển sách về đồ gốm Việt Nam, tôi khuyên nên mua quyển này.
2. Gốm Chu Đậu – của Tăng Bá Hoành, nxb. Kinh Books ở Hà Nội xuất bản năm 1999 (Đây là bản hiệu đính và có bổ túc thêm nhiều, bản đầu in năm 1993, in xấu và không đầy đủ bằng). Sách dày 160 trang khổ 8X11”, viết bằng 3 thứ tiếng Việt, Anh và Nhật, trong đó có khoảng 120 trang hình ảnh và họa đồ, in rất đẹp. Nếu thích đồ gốm Chu Đậu, thì phải có quyển này.
3. Gốm Bát Tràng – nxb. Thế giới ở Hà Nội xuất bản năm 1995, do Phan Huy Lê, Nguyễn Đình Chiến, Nguyễn Quang Ngọc chủ biên (thêm đóng góp của bà Kerry Nguyễn Long) viết bằng 2 thứ tiếng Việt và Anh, dày hơn 200 trang với hơn 100 trang hình ảnh, in rất đẹp.
4. Gốm hoa lam Việt Nam, Vietnamese Blue and White Ceramics – nxb Social Science Publisher (nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội) xuất bản năm 2001, của Bùi Minh Trí và Nguyễn Long Kerry dày 520 trang khổ 8X11”, với 320 trang hình ảnh, viết bằng hai thứ tiếng Việt và Anh. Đây là quyển sách của 2 tay cự phách trong những chuyên gia về đồ gốm Việt Nam.
5. Blue and White in the East Asia – do Museum of Oriental Ceramics, Osaka xuất bản năm 1997. Quyển sách này rất mỏng, chưa đến 30 trang khổ 8X11”, nhưng gần như toàn hình ảnh đồ men lam 4 nước Trung Hoa, Nhật bản, Cao Ly (Đại Hàn) và Việt Nam. Trong đó có hình 3 món Chu Đậu (của Museum of Oriental Ceramics, Osaka) mà trong dòng chú thích bằng tiếng Anh họ viết lầm đồ gốm Việt Nam thế kỷ XV, nhưng câu chú bằng chữ Hán thì lại ghi là đồ Thanh Hóa (sai).
6. Cổ vật Việt Nam, Vietnamese Antique – do Bộ Văn hoá Thông tin Việt Nam xuất bản năm 2003 ở Hà Nội. Sách dày gần 400 khổ 8X11”. In đẹp, với rất nhiều hình ảnh về đủ mọi thứ đồ cổ Việt (đa số là đồ gốm) thuộc đủ mọi thời kỳ. Một số lớn là bảo vật của Viện bảo tàng Lịch sử Việt Nam ở Hà Nội, nhưng cũng có nhiều món thuộc các bộ sưu tập của tư nhân trong nước. Sách viết bằng hai thứ tiếng Việt và Anh.
7. Vietnamese Ceramics do Southeast Asian Ceramic Society xuất bản năm 1982 ở Singapore.
8. Tạp chí Art of Asia do bà Tuyết Nguyệt xuất bản ở Hương Cảng cũng có nhiều bài về đồ gốm Chu Đậu.
11. Riêng về sử Việt, những điều tôi nói về nguồn gốc và ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa và Việt Nam trong chương “Bụt chùa nhà…” đã đầy đủ nên không nhắc lại đây nữa. Ngoài ra trong thời gian gần đây nhiều người đã đưa ra các luận cứ mới cho thấy rất rõ người Việt và văn hóa Việt ảnh hưởng đến văn hóa Trung Hoa. Ví dụ như mặc dù vẫn cứ nhận là phát minh của Tầu, nhưng sách sử Tầu cũng có nói rõ rằng người chế tạo ra giấy viết là Thái Luân đời nhà Hán, thật ra là người Việt. Chính súng thần công (đại bác) cũng do một người Việt là Hồ Nguyên Trừng (con trai trưởng của Hồ Quý Ly) chế ra (Xin xem Bách Việt tiên hiền chí – Lĩnh Nam di thư, của Âu Đại Nhậm, sử gia đời nhà Minh, mà Gs. Trần Lam Giang đã dịch và xuất bản (Ông Lê Thanh Hoa, có dẫn lại trên một bài viết ở báo Người Việt). Riêng về trống đồng, thì quan niệm của tôi như sau: trống đồng là một sản phẩm thuần tuý Việt Nam. Không có chứng cớ nào trong văn hóa Trung Hoa cho thấy người Tầu làm và dùng trống đồng. Dưới đời nhà Hán, khi Mã Viện thắng được Hai Bà Trưng rồi, bèn cấm làm trống đồng, tịch thu tất cả trống đống, nấu chảy ra để đúc ngựa đồng dâng vua nhà Hán, và đúc trụ đồng. Cũng hệt như thời bây giờ, chắc hẳn trong số tướng tá quan lại Tầu cũng có người giữ chiến lợi phẩm làm của riêng hay bán kiếm lời, rồi truyền lại cho con cháu, rồi chôn trong mộ các nhà quyền quý, đây là những trống đồng mà người ta tìm thấy ở Hoa Nam.
Tóm lại, như đã viết rằng: “Nói như thế không phải là chê đồ gốm Tàu không đẹp, đồ Tàu cực đẹp là đằng khác. Nhưng hai cái cách làm đẹp và hưởng đẹp rất khác nhau. Đồ gốm Tàu đẹp như một cô gái trang điểm lộng lẫy của dạ hội, đồ gốm Việt đẹp như cô gái hàng xóm thơ ngây, tươi mát. Cái đẹp của đồ Tàu là cái đẹp của thơ Lý Bạch: ‘Vân tưởng y thường hoa tưởng dung – Xuân phong phất hạm lộ hoa nùng’, trong khi cái đẹp của đồ Việt là thơ Nguyễn Khuyến: ‘Sóng biếc theo làn hơi gợn tí – lá vàng trước gió sẽ đưa vèo’. Một bên đẽo gọt tinh xảo, một bên mộc mạc đơn sơ, một bên là cái đẹp của trí tuệ, một bên là cái đẹp của tâm hồn”. Riêng tôi, tôi rất thích đồ gốm Tàu, nhưng tôi lại rất yêu đồ gốm Việt. Ai dám nói rằng cây đàn tranh của người Việt không hay bằng cây đàn tam thập lục của người Tàu, mặc dù nhìn vào ai cũng biết nó thăng hóa từ cây đàn Tàu ra. Riêng tôi vẫn nghĩ rằng tiếng đàn tranh thanh mà nhẹ, tiếng đàn tam thập lục dù rắt réo, nhưng bận rộn, cũng hay nhưng mà tâm như chưa thoát; Dáng cây đàn tam thập lục nặng nề, dáng cây đàn tranh nhẹ nhàng, thanh tú. A ha! Ai dám nói rằng bản Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân hay hơn Đoạn trường tân thanh của cụ Nguyễn Du.
Văn hoá Đại Hàn cũng mang nhiều ảnh hưởng Trung Hoa; văn hoá Nhật Bản ngoài ảnh hưởng Trung Hoa lại còn mang thêm nhiều ảnh hưởng Đại Hàn. Tuy nhiên vì sự thấu hiểu văn hoá của ông cha một cách sâu đậm của họ, nhờ lòng tự hào dân tộc, dân hai nước này đã làm cho thế giới phải nhìn rằng văn hoá của họ là văn hoá đặc thù. Thế nhưng còn Việt Nam? Than ôi chính những người Việt lúc nào cũng coi mình là thua kém, là một thứ văn hoá Trung Hoa nối dài, thì mong gì ai coi trọng. Đồ gốm Việt Nam vốn đã ít về số lượng, lại bị coi là một bản copy kém của Trung Hoa, thì mấy ai sưu tập, thì làm sao được coi trọng? Ôi bao giờ chúng ta mới thức giấc? Bao giờ chúng ta mới công bằng với ông cha mà thẳng thắn tìm hiểu gia tài văn hoá của mình không với mặc cảm tự ti là anh Tàu ảnh hơn mình mọi chuyện.
Tôi viết quyển sách Đồ gốm cổ, một nền văn hoá thuần Việt này, như là cất một bước đầu tiên để mong rằng nhiều người trong và ngoài nước sẽ sưu tầm, sẽ tìm hiểu và sẽ nghiên cứu sâu rộng hơn nữa về đồ gốm Việt Nam, về văn hóa Việt Nam. Tôi hy vọng rằng chúng ta sẽ mãi mãi tự hào rằng văn hóa Việt Nam không phải là một nền văn hóa tràn đầy ảnh hưởng Trung Hoa, mà chính là một nền văn hóa thuần nhất, độc đáo và giá trị, như những câu thơ lục bát thuần Việt của ca dao, của Nguyễn Du…
Một lần nữa, xin cảm tạ các bạn đọc, ông Phong Uyên đã để ý đến những bài viết của tôi. Đồng ý hay không, không phải là điều đáng kể. Điều vui mừng là mục đích khởi xướng lên những tìm hiểu về đồ gốm Việt Nam của mình đang đạt đến.
Tôi đã quá dài lời, vậy xin ngưng thôi. Một lần nữa cám ơn talawas đã cho cơ hội này, cám ơn các bạn đọc đã theo dõi. Hãy đọc, hãy viết, hãy sưu tầm, hãy làm cho thế giới hiểu rõ giá trị của đồ gốm cổ Việt Nam.

0 nhận xét:

Đăng nhận xét